Nên quy định tự thú ở đâu cũng được

(PL)- Pháp Luật TP.HCM vừa phản ánh những tranh cãi xung quanh việc có tòa áp dụng tình tiết giảm nhẹ với các bị cáo sau khi gây án đã tự chạy ra đường “tố” tội ác của mình hoặc gặp nạn nhân xin lỗi.

Về vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của nguyên Chánh Tòa hình sự TAND Tối cao Đinh Văn Quế.

Trong thực tiễn xét xử, không chỉ có tòa, thẩm phán mà ngay cả các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng khác, không chỉ ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm mà cả cấp giám đốc thẩm cũng hiểu chưa thống nhất về các tình tiết người phạm tội tự thú và đầu thú. Điều này cho thấy các tình tiết người phạm tội tự thú và đầu thú có ý nghĩa quan trọng để các cơ quan tố tụng vận dụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như khi quyết định hình phạt.

Phân biệt rõ tự thú và đầu thú

Trước hết, về tình tiết tự thú, ngày 2-6-1990, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), VKSND Tối cao, TAND Tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên ngành số 05/TTLN. Theo thông tư này, mọi trường hợp tự thú và đầu thú đều được áp dụng khoản 1 Điều 38 BLHS 1985 (các tình tiết giảm nhẹ luật định).

Tuy nhiên, ngày 10-6-2002, chánh án TAND Tối cao có Công văn số 81/2002 hướng dẫn các tòa án chỉ áp dụng khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 (các tình tiết giảm nhẹ luật định) đối với tình tiết tự thú. Còn tình tiết đầu thú, các tòa chỉ được áp dụng theo khoản 2 Điều 46 BLHS 1999 (khi quyết định hình phạt, tòa còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ trong bản án).

Đến nay, Thông tư liên tịch 05/1990 đã hết hiệu lực pháp luật, chỉ còn Công văn số 81/2002 của TAND Tối cao đang được các tòa áp dụng.

Về lý luận, tự thú là “tự mình nhận tội và khai ra các hành động phạm pháp của mình”. Về pháp lý, chỉ coi một người tự thú khi hành vi tội phạm họ thực hiện chưa bị phát hiện nhưng họ tự đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền (công an, VKS, tòa, thanh tra...) khai báo.

Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác. Họ đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm. Trong trường hợp chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự thì việc tự thú được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS 1999.


 
Bị cáo Cao Thị Hồng Thắm, người được TAND TP.HCM áp dụng tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” vì đã gặp nạn nhân xin lỗi. Ảnh: H.YẾN

Còn đầu thú là trường hợp đã có người biết mình phạm tội, sau khi gây tội đã bỏ trốn nhưng lại đến cơ quan có thẩm quyền trình diện khai rõ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm (nếu có).

Như vậy “tự thú” và “đầu thú” khác nhau ở chỗ: Tự thú là chưa ai biết mình phạm tội, còn đầu thú là đã có người biết mình phạm tội. Nếu đầu thú càng sớm thì mức độ giảm nhẹ càng nhiều. Mức độ giảm nhẹ của hành vi đầu thú còn phụ thuộc vào việc sau khi đầu thú, người phạm tội có khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm hay không. Nếu khai không rõ ràng hoặc khai báo không đầy đủ thì mức độ giảm nhẹ ít hơn. Còn nếu vờ tự thú để trốn tránh một tội phạm khác đặc biệt nguy hiểm thì không được coi là tự thú.

Cần có hướng dẫn chính thức mới

Để việc áp dụng pháp luật thống nhất, không xảy ra tình trạng mỗi nơi áp dụng một kiểu, tôi đề nghị các cơ quan tố tụng ở trung ương cần có hướng dẫn chính thức về chính sách đối với người phạm tội ra tự thú, đầu thú bằng một thông tư liên tịch mới thay thế Thông tư số 05/1990. Thông tư mới này sẽ có giá trị pháp lý cao hơn Công văn số 81/2002 của TAND Tối cao, vốn chỉ là hướng dẫn nghiệp vụ trong ngành tòa án.

Mặt khác, tôi đồng tình với nhiều ý kiến đề xuất cần hướng dẫn theo hướng dù người phạm tội tự thú ở đâu, đối với ai thì cũng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “người phạm tội tự thú” theo điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS 1999. Trường hợp một người phạm nhiều tội thì tự thú tội nào được coi là tình tiết giảm nhẹ đối với tội đó. Trường hợp thực hiện nhiều hành vi phạm tội trong cùng một tội thì tự thú hành vi phạm tội nào được coi là tình tiết giảm nhẹ đối với tội phạm đó nhưng mức độ giảm nhẹ ít hơn trường hợp tự thú tất cả các hành vi phạm tội. 

Tương tự, dù người phạm tội đầu thú ở đâu, đối với ai thì cũng nên áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS 1999. Tuy nhiên, cần lưu ý là trong trường hợp người khác, kể cả người bị hại đã biết chắc người phạm tội và đã tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì hành vi đầu thú với người bị hại không được coi là đầu thú nữa mà chỉ có thể coi là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Không phải là tự thú

Mới đây, TAND TP.HCM xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị, sửa tội danh đối với Cao Thị Hồng Thắm từ trộm cắp tài sản sang lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời giảm án cho Thắm xuống còn một năm tù.

Chiều 19-1, Thắm đến nhà chị Trịnh Kim Anh (quận 12) chơi. Thấy chiếc xe máy (trị giá hơn 7 triệu đồng) dựng trong nhà, Thắm nảy sinh ý định chiếm đoạt bèn vờ mượn xe đi mua đồ nhậu nhưng chị Anh không cho. Sau đó, lúc chị Anh đi tắm, Thắm hỏi chồng chị Anh mượn xe đi mua đồ nhậu. Tưởng vợ đã đồng ý, chồng chị Anh để Thắm lấy xe đi. Thắm chạy thẳng đến tiệm cầm đồ gần đó cầm xe lấy 6 triệu đồng rồi bỏ trốn. Chị Anh đến cơ quan công an tố cáo Thắm. Đến ngày 23-1, Thắm tìm đến nhà chị Anh xin lỗi. Lúc này chị Anh đã báo công an phường bắt giữ Thắm.

Điều đáng chú ý tại phiên tòa phúc thẩm là HĐXX đã xác định tình tiết Thắm đến nhà chị Anh xin lỗi, trả lại giấy tờ là đầu thú, là một trong các tình tiết giảm nhẹ để giảm án cho Thắm.

Trước đây, TAND TP.HCM từng xét xử một vụ giết người mà bị cáo có vấn đề về tâm thần. Sau khi giết người yêu ở bãi đất trống, bị cáo chạy ra đường đứng la lớn: “Tôi đã giết người, giết người”. Từ đây, người dân đã báo công an tới bắt giữ bị cáo. Khi xét xử, HĐXX cũng vận dụng tình tiết giảm nhẹ là tự thú cho bị cáo.

Theo cách hiểu thông thường và tinh thần của Công văn số 81/2002, tôi cho rằng hai trường hợp này đều không phải là tự thú theo điểm o khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 mà chỉ là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 BLHS 1999.

ĐINH VĂN QUẾ

BẠN ĐỌC BÌNH LUẬN