Nhà chồng cho tiền mua đất, nhà tự xây là tài sản chung hay riêng?

(PLO)-Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.

Trong thời kỳ hôn nhân, nhà chồng có cho vợ chồng tôi tiền để mua mảnh đất và chúng tôi đã xây nhà ở. Tôi và con gái không chịu nổi cảnh người cha suốt ngày say xỉn về chửi rủa, đánh đập vợ con nên đã ra ngoài thuê nhà để. Hiện nay, chúng tôi đã ly hôn và mỗi người nuôi một đứa con. Do nhà chưa có giấy tờ nên tòa nói hai bên tự phân xử. Lúc đầu, anh ấy nói kiếm tiền trả tôi nửa căn nhà nhưng giờ anh ấy đổi ý cho rằng căn nhà là của riêng của ảnh chứ hổng phải của chung. Tôi muốn ở trong nhà này với hai con thì anh ấy không cho. Vậy căn nhà có phải là tài sản chung của vợ chồng tôi hay không? Nếu chia thì mẹ con tôi có được ưu tiên gì không?

Phạm Thị Bích Liên(bichlien172@gmail.com)

Luật sư LÊ VĂN HOAN, Trưởng Văn phòng luật sư Lê Văn, TP.HCM: Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định về tài sản của vợ chồng như sau:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, căn nhà mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng bạnnên bạn có quyền được chia đối với tài sản này.

Về nguyên tắc khi giải quyết chia tài sản của vợ chồng phải bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

KIM PHỤNG

BẠN ĐỌC BÌNH LUẬN

Tài sản thừa kê đã cho lấy lại được không

Nhà và đất là ngoại tôi cho cậu mợ. Ngoại vẫn sống chung nhà. Nhưng cậu mợ không làm ăn. Thu nhập do mình ngoại tôi cả. Nhưng nay 2 người ly hôn. Mợ tôi đòi chia đôi tài sản. Ngoại còn cho thêm 1 mẫu cao su và 2 căn nhà. Vậy mợ tôi đòi chia đôi tài sản là đúng hay sai. Đó hoàn toàn là tài sản của ngoại tôi. Họ không bỏ công tu dưỡng hay tăng thu nhập. Vậy ngoại tôi có lấy lại tài sải được không. Ngoại đã sang giấy tờ cho 2 vợ chồng đứng tên

Nguyễn Bình

Việc toà án cho rằng do nhà đất chưa có giấy tờ nên hai bên tự phân xử là hoàn toàn chưa chính xác. Pháp luật đã quy định nếu thửa đất trên đã được đăng ký, kê khai và có tên trong sổ địa chính hoặc có tài sản gắn trên đất thì toà án có thẩm quyền giải quyết (Nghị quyết 02/2004/HĐTP - TANDTC). Trong trường hợp này, toà án có quyền quyết định tạm giao đất cho một hay hai đương sự và sau đó các đương sự căn cứ vào bản ản đã có hiệu lực pháp luật để xin hợp thức hoá chủ quyền nhà đất cho mình. Toà trả lời như vậy là thiếu căn cứ và không tôn trọng pháp luật; chị Liên có quyền khiếu nại hành vi của thẩm phán đang giải quyết vụ việc. Về quyền tài sản, tôi xin bình luận thêm. Chúng ta đừng nên nghĩ tất cả mọi trường hợp hễ có tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân thì tất cả sẽ được pháp luật công nhận đó là tài sản chung của hai vợ chồng. Trong trường hợp này, quyền sử dụng đất tuy được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhưng tài sản đó có được nhờ hoàn toàn vào số tiền mà nhà chồng đã cho. Tiền cũng là tài sản. Có tiền mới có đất. Suy cho cùng, đây là một sự thay đổi về vật sỡ hưu do phát sinh giao dịch. Chúng ta nên nhớ, quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền quan trọng, thiêng liêng nhất đã được pháp luật bảo vệ. Chính vì vậy, khi giải quyết những trường hợp này toà án phải suy xét kỹ về quyền tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên. Luật hôn nhân gia đình quy định "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung". Chúng ta cần hiểu đúng một phần quy định này đó là tài sản chung của vợ chồng phải do chính công sức của vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Đối chiếu với trường hợp này thì quyền sử dụng đất có được không do phía người vợ hoặc người chồng hoặc cả hai người "tạo ra" (trừ trường hợp chứng minh được số tiền mua đất được tặng cho chung hoặc sau khi được tặng cho riêng người chồng đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung - theo thoả thuận). Mặt khác, bên cạnh quy định về tài sản chung của vợ, chồng, Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định rõ giao dịch liên quan tới tài sản lớn phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Chính vì vậy, trường hợp này nếu phía người chồng tự lập giao dịch mua bán đất thì quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh - nói chung là hậu quả phát sinh từ giao dịch này đều do người chồng tự chịu trách nhiệm mà người vợ không phải chịu trách nhiệm gì. Không chịu trách nhiệm thì không có quyền (trừ trường hợp sau đó được thoả thuận nhập vào khối TS chung theo tôi đã phân tích, bình luận ở phần đầu). Về nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc số tiền mua đất. Trường hợp này người chồng không cần chứng minh nguồn gốc toàn bộ số tiền mua đất nữa vì đã được người vợ thừa nhận. Trên đây là một vài ý kiến về mặt pháp lý của riêng tôi. Y kiến này xuất phát từ thực tế tố tụng có nhiều cách hiểu và giải quyết khác nhau và mong muốn có cách hiểu và giải quyết thống nhất.

Võ Nguyên Hồng

Tại sao không đặt vấn đề ngược lại. Cô Liên phải đưa ra được chứng cứ nhà chồng đã cho cô đất. Nếu không ai đưa ra được chứng từ, văn bản thì phải dựa vào tuyên bố của người cho.

Nguyễn Bình

Nhà xây dựng trên đất thì đã rõ, đó là khối tài sản chung. Về quyền sử dụng đất, nguyên tắc chung là vậy. Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp thì chị Liên phải có chứng cứ, lập luận để chứng minh việc nhà chồng cho tiền là cho chung cả hai vợ chồng. Trong thực tế , khi quan hệ vợ chồng đang "cơm ngon, canh ngọt" thì mọi tài sản phát sinh, tạo lập trong thời kỳ hôn nhân đều được xem là tài sản chung, nhưng khi phát sinh mâu thuẫn thì lại khác. Thực tế khi nhà chồng cho tiền thì thường chỉ "trao tay" mà không lập văn bản tặng cho cụ thể nên khi phát sinh tranh chấp thì người chồng và phía nhà chồng có thể khai báo số tiền mua đất do nhà chồng tặng cho riêng chồng nên cũng khá khó để chứng minh thửa đất trên là tài sản chung. Chính vì vậy, đối với vụ việc tranh chấp này, phía chị Liên phải chứng minh hợp đồng mua đất do ai xác lập. Nếu chứng minh được việc mua đất do hai vợ chồng xác lập thì cơ sở để khẳng định đó là tài sản chung khá chắc chắn. Bên cạnh đó, khi phát sinh tranh chấp, chị cần sử dụng những tài liệu đăng ký, kê khai, đóng thuế nhà đất; chứng minh công sức, thu nhập của mình trong quá trình mua đất, xây nhà; lời khai của bên bán đất (nếu không có hợp đồng) để chứng minh. Trường hợp hợp đồng mua đất do một mình chồng xác lập nhưng tờ kê khai, đăng ký đứng tên hộ gia đình hay đứng tên chị thì cũng hoàn toàn có cơ sở để nhận định đây là khối tài sản chung do hai bên đã thoả thuận. Nói chung, tuỳ theo tài liệu, chứng cứ sẽ có những phương pháp chứng minh cụ thể. Mặt khác, theo quy định nếu đó là khối tài sản chung thì pháp luật cũng quy định nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến công sức đóng góp của mỗi người.

Pháp luật cho mọi người

Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến tư vấn của Nguyễn Bình. Tôi chỉ xin bổ sung thêm ý kiến theo câu hỏi của chị Bích Liên về việc Tòa án nói nhà chưa có giấy tờ nên các bên tự phân xử là không có căn cứ mà Tòa án vẫn phải thụ lý để phân chia theo quy định của pháp luật vì vậy chị Bích Liên cần biết để yêu cầu Tòa án giải quyết chứ không nên rút lại yêu cầu. Đối với đất thì bạn cứ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để xin trích lục lại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xem trên đó ai là người ký hợp đồng, nếu là chồng bạn và bạn hoặc cá nhân chồng bạn ký hợp đồng thì quyền sử dụng đất đó cũng là tài sản chung vợ chồng nếu chồng bạn không chứng minh được chồng bạn dùng tiền được tặng cho để nhận chuyển nhượng. Trân trọng!

Pham Thị Bích Liên

Cám ơn phần trả lời của luật sư.
1